10gomsubattrang.14vn.net

Thời Minh và văn hóa gốm sứ

Năm 1368 Chu Nguyên Chương nổi dậy lật đổ đế chế ngoại tộc Nguyên, lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Hồng Vũ, đổi quốc hiệu là Minh, đóng đô ở Nam Kinh.So với các các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông vẫn tiếp tục sản xuất đồ gốm như trước thì trấn Cảnh Đức là trung tâm sản xuất đồ gốm lớn nhất Trung Hoa thời bấy giờ với những kỹ thuật tinh xảo. Sau khi nhà Minh đóng đô ở Nam Kinh thì lò Ngự (lò chế đồ cho nhà vua) cùng được xây dựng ở trấn Cảnh Đức.

Vào  thế kỉ thứ 16, thời Minh, Trung quốc đã sản xuất ra bộ đĩa sứ đẹp như mơ

Đồ gốm thời Minh phát triển trên cơ sở kế thừa kỹ thuật sản xuất Tống - Nguyên và đổi mới rất nhanh trên nhiều phương diện. So với giai đoạn Tống - Nguyên, đồ gốm sứ Trung Quốc thời Minh phong phú, đa dạng hơn nhiều cả về loại hình, các loại men và đề tài trang trí.

Đây là thời kỳ đăng quang của gốm sứ hoa lam vì người Trung Quốc đã mua được nguyên liệu côban từ Ả Rập để vẽ lên gốm sứ tạo ra những sản phẩm gốm hoa lam (thanh hoa) tuyệt đẹp cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu và được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng.

Dưới thời Minh, người làm gốm cũng chế ra men nhiều màu (tam thái, ngũ thái) với kỹ thuật và nghệ thuật tô, vẽ màu phong phú đầy sáng tạo. Thời kỳ này đồ sứ hoa lam và đồ sứ vẽ nhiều màu trên men chiếm số lượng lớn nhất. Các sản phẩm gốm sứ không chỉ mang tính chất sử dụng mà còn là những tác phẩm nghệ thuật sống động.
Loại hình, hoa văn

So với những giai đoạn trước, xương gốm thời Minh mỏng đều hơn, độ kết tinh của xương mịn, chắc, men trắng và dày.

Tượng gốm

Dựa vào kết quả các cuộc khai quật và một số sản phẩm hiện còn trong các viện bảo tàng, các nhà nghiên cứu thống kê có ít nhất 14 loại hình được sản xuất trong thời kỳ này. Đó là: âu, bát, bình, chậu, chén, choé, chum, đĩa, hộp, hũ, kendy, lọ, nậm, tượng trong đó chiếm số lượng lớn nhất là bát và đĩa.

    * Âu có nắp và chia ra 2 kiểu: kiểu miệng rộng hơi cúp, thành cong khum, đế thấp, lõm; và kiểu miệng đứng, thành hơi cong, đế thấp, lõm.
    * Bát có 5 kiểu. 1- Bát có miệng loe, thành cong, lòng sâu, đế thấp, lõm chiếm đa số; 2- Bát có miệng loe rộng, gờ miệng cắt khấc, thành vát, đế nhỏ, thấp lõm; 3- Miệng loe bẻ, thành cong, đế thấp và lõm; 4- Miệng loe, thành hơi cong, lòng cạn, đế thấp; 5- Miệng đứng, thành cong, lòng sâu, đế hơi cao, lõm.
    * Bình có 3 chiếc chia 3 kiểu. 1- Miệng nhỏ và đứng, cổ hình trụ, vai gù, thân trên phình to, thuôn dần xuống đế, đế lõm; 2- Miệng nhỏ và loe, gờ miệng vê tròn, cổ eo, vai phình rộng, thân dáng chóe, đế loe, lõm; 3- Miệng đứng, cổ cao hình trụ, thân hình cầu, đế thấp, lõm.
    * Chậu miệng loe xiên, thành cong, lòng sâu, giữa hơi lồi, đế lõm không chân.
    * Chén có 3 kiểu. 1- miệng loe, thành cong ưỡn, đế thấp, lõm; 2- Miệng đứng, thành hơi cong, đế thấp, nắp hình chỏm cầu, núp nắp cao có tán tròn dẹt; 3- Miệng loe, thành đứng, đế cao, loe và rỗng.
    * Chóe có miệng rộng và đứng, cổ ngắn, vai phình, thân thuôn, đế bằng, có nắp.
    * Chum có miệng rộng và đứng, cổ ngắn, vai phình, thân trên to, thu nhỏ vè đế, đế lõm.
    * Đĩa có 6 kiểu. 1- Miệng loe, thành cong, đế thấp, lõm; 2- Miệng loe xiên, thành cong gãy, lòng nông, đế thấp, lõm; 3- Miệng loe rộng, thành vát, đế rộng, thấp, lõm; 4- Dáng chậu, miệng hoe xiên, thành cong ưỡn, lòng sâu, đế thấp, lõm; 5- Đĩa nhỏ hình vuông uốn góc, thành vát, bòng nông, đế thấp, lõm; 6- Bộ đĩa gồm 1 đĩa bát giác ở giữa và 8 đĩa ngũ giác xung quanh.
    * Hộp có 7 kiểu. 1- Hình chữ nhật uốn góc gồm 2 phần ghép lại; 2- Hình tròn dẹt gồm 2 phần ghép lại. Thân hộp hình đĩa, đế thấp, lõm, nắp cong khum; 3- Hình tròn dẹt gờm 2 phần ghép lại, tạo hình quả bí đỏ hoặc thân và nắp trang trí in nổi hoa lá, con vật; 4- Hộp tròn, nắp hình chỏm càu, mặt nắp in nổi rùa, rắn, tôm, cua; 5- Hộp tròn, nắp hình bán cau gồm 2 tầng, tầng trên hình chỏm cầu in nổi băng cánh cúc, đỉnh có núm đi động được; 6- Hộp hình bát giác. Mặt nắp chia 8 ô hình thang, trong mời ô in nổi một bông hoa. Núm nắp tròn hoặc tạo hình con cóc; 7- Hộp tạo hình con thú nằm gồm 2 phần: thân hộp là phần chân và bụng thú, nắp 1à phần đầu và lưng thú.
   
    * Kendy (bình rượu có vòi hình bầu vú) có miệng đứng, cổ cao hình trụ, đoạn gần miệng có gờ rộng, vai xuôi, bụng phình tròn đều, vòi hình bầu vú, đế thấp, lõm.

* Hũ có 2 kiểu. 1- Miệng rộng, gờ miệng vê tròn, cổ ngắn, vai xuôi có 4 tai nam ngang, thân hình trũng thuôn dần về hai đầu, đế hơi lõm giữa, không phủ men. Quanh thân trang trí nổi bằng răng cưa hoặc khắc chìm 3 đường chỉ và 4 khóm địa lan; 2- Miệng nhỏ, gờ miệng vê tròn, cồ ngắn, vai xuôi, thân trên phình rất to, thu nhỏ về đế, đế hơi lòm giữa và để mộc.
    * Lọ có 6 kiểu. 1- Miệng nhỏ và loe, cổ thắt, thân hình cầu (hoặc cầu dẹt), đế lõm (hoặc bằng); 2- Miệng đứng hoặc hơi 1oe, vai phình, thân dáng chuông, đế bằng (hoặc lõm) để mộc; 3- Miệng khoét tròn (rộng hoặc hẹp), thân hình cầu dẹt, đế lõm không chân; 4- Miệng khoét tròn, thân tròn dẹt chia nhiều múi nổi tạo hình quả bí đỏ, nắp hình bông hoa 6 cánh hoặc hình tròn dẹt trang trí in nổi; 5- Miệng 1oe xiên, cổ hơi cao, thân tạo hình quả bí đỏ, đế lõm không chân; 6- Miệng 1oe, cổ cao hình trụ, vai hơi ngang, thân dáng chuông thấp, đế rộng, thấp lõm không phủ men.
    * Nậm có 2 kiểu dáng khác nhau. 1- Nậm hoa lam có miệng loe, cổ cao, vai phình trang, bụng hình cầu, đế thấp lõm; 2- Nậm chiều màu có dáng củ tỏi, miệng đứng, cổ cao. Phần cổ gần miệng hơi phình, vai xuôi, bụng dưới phình to, đế thấp bằng, đế mộc.
    * Tượng. Nhóm tượng có nhiều loại, trong đó đặc sắc là tượng gốm men nhiều màu tạo hình em bé ôm bình hoa sen đứng trên bệ hình vuông, trên đầu kết nơ, miệng nở nụ cười tươi, mình mặc quần áo và yếm yếm hoa.



Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nghệ thuật đồ họa Trung Quốc đã để lại hệ thống đồ án hoa văn trang trí trên gốm sứ vô cùng phong phú. Kế thừa và phát huy, đồ gốm sứ thời Minh có hoa văn trang trí bao gồm từ những băng hoa văn hình học làm đường diềm cho đến những bức tranh phong cảnh sơn thuỷ, lâu đài, nhân vật, phản ánh nhũng điển tích và sinh hoạt; từ động vật sống trên cạn, các loài côn trùng đến nhưng loài thuỷ sinh... tất cả đều được diễn tả sinh động qua đề tài, bố cục, đường nét, hình trang trí có ngụ ý, biểu tượng, mang nội dung cụ thể.

    * Hoa văn nhân vật: Theo các học giả nghiên cứu về gốm sứ Trung Quốc thì từ thời nhà Tống đề tài người mới được trang trí trên đồ gốm sứ. Những hình người được vẽ trong các tư thế sinh hoạt với lối y phục đời thường như hình người trong tư thế đứng, mình mặc áo choàng dài, người bắn cung và thiếu nữ, người chơi đàn và một người cầm quạt đứng trước lư hương đang tỏa khói. Thời Minh đạo Lão thịnh hành và đề tài này cũng được thể hiện cả trên đồ gốm sứ, đó là bộ 8 đĩa, mỗi đĩa vẽ một vị tiên trong Bát tiên đạo Lão hoặc một vị thần trong truyền thuyết của Trung Quốc: Hán Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Hà Trên Cô, Tào Quốc Cựu, Lam Thái Hòa...
    * Hoa văn động vật: Gốm thời Minh vẽ nhiều loại cầm, thú, thuỷ sinh, côn trùng, bò sát.
          o Nhóm thú: Rồng là linh thú được vẽ nhiều nhất. Hai rồng có cánh đuổi nhau được vẽ trên bát hoa lam, rồng năm móng vờn ngọc giữa sóng biển và mây trên bình, rồng năm móng được vẽ trong ô tròn thành ngoài chum sứ men trắng vẽ nhiều màu cùng với sóng nước. Thành ngoài bát hoa lam thường vẽ đôi rồng và phượng đuổi nhau. Kỳ lân cũng là linh thú hay được vẽ trên gốm. Theo quan niệm của người Trung Quốc, lân biểu hiện cho điềm lành vì nó chỉ xuất hiện vào thời thái bình. Sư tử được coi là đồng loại của kỳ lân. Sư tử được vẽ giữa hoa lá trên thành ngoài choé nhiều màu hoặc vẽ trong tư thế đang đùa với quả cầu (sư tử hí cầu). Nai được vẽ trên lọ hoa lam với tư thế đứng trong ô hoặc kết hợp với cây tùng trong đồ án tùng - lộc trên các đĩa hoa lam. Nai còn đứng trong đồ án tam hữu trên thành ngoài bát hoa lam cùng khỉ và vẹt. Ngoài ra, còn có 2 hoặc 3 con ngựa được vẽ trong tư thế phi nước đại trên thành lọ hoa lam, đàn sóc giữa những chùm nho trên choé hoa lam và nhiều màu...
          o Nhóm lông vũ: Gồm có phượng, hạc, cò, vịt, công, vẹt, gà, thiên nga. Phượng là giống chim thiêng đem bại điềm lành, báo hiệu thời thái bình thịnh trị và biểu trưng cho phú quý. Hình tượng con cò được vẽ cùng hoa sen. Vịt được vẽ cùng hoa sen trong đồ án liên - áp ở thành ngoài bát hoa lam và có đĩa hoa lam vẽ bốn con thiên nga trong hồ sen. Gà được vẽ trên nắp hộp sứ trắng vé nhiều màu bên hoa mẫu đơn thường là vẽ đôi gà giữa đám cỏ cây, hoa lá. Ngoài ra còn có chim công được vẽ trên bát hoa lam, vẹt ở thành ngoài bát, hạc ở thành trong đĩa hoa lam...
          o Nhóm côn trùng: thành ngoài mai bình sứ trắng cùng hoa cúc trong đề tài cúc - điệp thì chuồn chuồn được vẽ ở thành ngoài đĩa hoa lam.
          o Nhóm thủy sinh và lưỡng cư: Đề tài cá nhảy trên sóng nước được vè ở giữa lòng bát, cá ngoi đầu trên mặt nước ở đĩa. Cá còn được in nổi trên nắp hộp men nâu đen cùng sóng nước, mặt nắp hộp men nâu in nổi rùa, rắn, tôm, cua... và tạo hình con cóc trên núm nắp hộp gốm men xanh...
    * Hoa văn thực vật: Những đồ án trang trí lấy trong thiên nhiên như hoa quả, cây cỏ được sử dụng nhiều nhất. Hoa sen được vẽ thành nhiều khóm trong hồ nước, hoa sen được vẽ cùng các chùm quả đào, cựu, nho, sen còn được dùng kết hợp trong đề tài trang trí sen - vịt ở bát hoa lam, sen còn được trang trí cùng chữ Phạn ở thành ngoài bát hoặc in nổi trên nắp hộp gốm men xanh lục. Hoa cúc được vẽ trên bình sứ nhiều màu cùng hoa mẫu đơn cùng tùng và trúc. Hoa cúc còn được in nổi trên mai bình sứ trắng cùng con bướm. Hoa mai kết hợp với cành tùng trong đồ án "triền chi" quanh thành ngoài bát hoa lam, hoa mai còn được in nổi trên nắp hộp gốm men xanh lục trong đồ án mai - điểu. Hoa mẫu đơn ngoài trang trí cùng các loài hoa khác trên choé sứ nhiều màu, ngoài ra còn được vẽ cùng các loài cầm thú như sư tử trên chóe. Ngoài ra còn có các loại hoa dây, địa oan... được vẽ trên bát, đĩa, bình...
      Bên cạnh các loài hoa còn có nhiều loài quả được sử dụng làm đồ án trang trí như chùm nho, chùm lựu trong bòng bát hoa 1am. Có chiếc đĩa men vàng vẽ có mặt cả ba chùm lựu (phúc), nho (lộc), đào (thọ) trong đề tài tam đa. Nho còn được vẽ trên thành ngoài chóe cùng với bầy sóc. Đề tài tứ quý còn có mặt tùng, trúc, sen, đào kết hợp với nhau...
    * Hoa văn đường diềm thường chia băng, chia ô quanh phần miệng, vai hay phần chân đồ gốm. Băng cánh hoa sen là một trong những hoa văn được sử dụng 1àm đường diềm nhiều nhất. Loại này bao gồm cánh sen đầu vuông trên bát hoa lam, cánh sen đầu nhọn trên vai các lọ hoa lam, cánh sen nghiêng trên bát hoa lam. Băng hoa bốn cánh trong hình thoi được vẽ trên miệng bát hoa lam hay trên miệng bình men trắng vê nhiều màu. Trên các thành miệng trong và ngoài bát men trắng vẽ nhiều màu (N 86, 87) hoặc quanh cổ các bình vẽ nhiều màu thường thể hiện các dải hoa lá hoặc các cành hoa. Các loại 1á cây cũng được sử dụng thành băng trang trí. Băng tàu lá chuối được vẽ trên vai và giáp đế chum sứ men trắng, băng hoa văn sóng nước được vẽ khâu nhiều quanh chân đế chum nhiều màu... Ngoài ra còn có các kiểu trang trí đường diềm khác như băng chữ T ở thành miệng trong bát hoa lam, băng dải xoan ở thành ngoài miệng bát, băng vạch chéo trong tam giác ở gờ nắp chóe, chữ S gấp khúc trên gờ miệng bát, băng liên hoàn sơn thủy, đình, liễu trên bát hoa lam...


    * Men lam: Gốm thời Minh sử dụng vẽ lam dưới men trắng khá điển hình như bát, đĩa, lọ, nậm, chén, kendi. Men lam được dùng vẽ hoa lá dưới nền men vàng. Men lam vẽ dưới men trắng trong lấn nung thứ nhất kết hợp vẽ nhiều màu qua lần nung thứ hai ở nậm nhiều màu. Men lam được dùng viết minh văn trên miệng bình nhiều màu, dưới đế đĩa đỏ nâu hay trên chén sứ men trắng.
    * Men nhiều màu: Ngoài men lam nặng lửa ở bần nung thứ nhất, gồm thời Minh còn dùng men nhiều màu ở lần nung thứ hai, gồm màu xanh xám, đỏ, vàng thường vẽ ở choé và nậm.
    * Men vàng: được sử dụng với sắc độ đậm ở mảnh đế lọ, đĩa, chum. Với sắc độ nhạt hơn ở choé có nắp, tượng, ...
    * Men đỏ: Men đỏ được vẽ trên bát, choé và nậm. Men đỏ nâu sận được phu trên đĩa, sắc nhạt hơn được vẽ trên bình nhiều màu. Việc sử dụng men đỏ là một sự chứng tỏ kỹ thuật men sứ đã đạt đến đỉnh cao trong lịch sử gốm sứ Trung Hoa.
    * Men xanh lục: Men xanh lục sần vẽ trên chum hay phủ ngoài 1ọ, hộp. Men xanh lục còn được vẽ trên bát và choé.
    * Men ngọc: thường phủ cả thành trong và ngoài đĩa.
    * Men trắng: phủ trên chén, lọ, mai bình, bát, đĩa và chậu.
    * Men xám: được phủ trên đĩa vè nhiều màu
    * Men nâu: được phủ ngoài hộp có nắp...



Đặc biệt thời Minh đã bắt đầu phổ biến việc dùng minh văn, thể hiện dấu niên hiệu trên đồ gốm sứ và được thể hiện bằng cách viết hoặc khắc chìm. Có bát hoa 1am trong lòng viết chữ Hỷ, thành ngoài viết 4 chữ Phương truyền vạn cổ (芳傳萬古) hoặc Vạn cổ trường xuân (萬古長春). Niên hiệu vua thường được dùng 4 chữ như Tuyên Đức niên tạo (宣德年造), Thành Hóa niên chế (成化年製) hoặc 6 chữ Đại Minh Gia Tĩnh niên chế (大明嘉靖年製), Đại Minh Vạn Lịch niên chế (大明萬曆年製). Nhưng cá biệt có sản phẩm chỉ viết 2 chữ Đại Minh. Minh văn thể hiện bằng khắc chìm chỉ có dòng chữ Đại Minh Thành Hóa niên chế (大明成化年製) thường khắc dưới đế theo kiêu chữ chân và chưa thấy trường hợp nào viết chữ triện.

   
 

Tinh xảo tượng gốm thời Minh
Cẩm nang cho người sưu tầm đồ cổ

Sách về nhận biết đồ thanh hoa dân diêu đời Minh:

* Choé: 古玩與收藏丛书 (Cổ ngoạn dữ thâu tàng tùng thư)- Tác giả: Tào Tân Ngô. Nhà xuất bản Hồ Bắc. Trung Quốc.

* Bát: 古玩與收藏丛书 (Cổ ngoạn dữ thâu tàng tùng thư)- Tác giả: Nhất Dật. Nhà xuất bản Hồ Bắc. Trung Quốc
* Đĩa: 古玩與收藏丛书 (Cổ ngoạn dữ thâu tàng tùng thư)- Tác giả: Nhất Dật. Nhà xuất bản Hồ Bắc. Trung Quốc.
 

" Văn hóa rác" được cảnh báo trên con đường gốm sứ

Những thất vọng về con đường gốm sứ được phản ánh ngay trên khuôn mặt của nhà sử học Lê Văn Lan, họa sĩ Trần Lương. Con đường gốm sứ chắt tinh thành quả của người dân làng gốm sứ được đem ra làm thương mại hóa khiến người dân phẫn nộ. Phản cảm với du khách.

Đoạn tranh gốm chủ đề "Dấu ấn định đô Thăng Long" ở nút cầu vượt Chương Dương

Kẹt giữa một bên là sự chỉ trích của dư luận và giới nghệ sĩ, khoa học một bên là sức ép của các nhà tài trợ, chủ đầu tư dự án - Công ty Nghệ thuật Tân Hà Nội và tác giả ý tưởng - nhà báo Nguyễn Thu Thủy - đang từng bước tìm giải pháp sửa chữa để Con đường Gốm sứ không đi vào ngõ cụt.
Nút cầu vượt Chương Dương đẹp hơn với đoạn tranh gốm chủ đề "Dấu ấn định đô Thăng Long".

Dự án này từng được coi là một sáng kiến hay, một ý tưởng được trao giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội. Nhưng khi thực hiện được khoảng 28%, tương đương với hơn 1.800 m2 đã phủ gốm, ông Lê Văn Lan - người từng thuyết phục UBND TP Hà Nội phê duyệt dự án từ những ngày đầu - cho rằng, Con đường Gốm sứ đã hoàn toàn đi chệch với lộ trình và đích đến mà nó vạch ra. Ông chỉ ra nhiều bất cập lớn, trong đó, nổi cộm lên là sự xâm lấn của tính thương mại trong một công trình văn hóa và sự thiếu thống nhất, đồng bộ về nội dung, chủ đề tác phẩm: "Tôi rất buồn, bởi xã hội đưa đẩy, tác động đã khiến cho ý tưởng rất hay của chị Nguyễn Thu Thủy bị đi chệch hướng. Người ta đã biến nó thành một vụ kinh doanh, biến nghệ thuật thành nơi làm tiền. Ban đầu, Thủy thật thà và nhiệt tình tin rằng, chị ấy sẽ kêu gọi được nguồn vốn xã hội hóa một cách vô tư. Nhưng sau gần 3 năm, mọi việc đã bị biến tướng, có thể nói là ra ngoài cả khả năng kiểm soát của chị ấy".

Còn họa sĩ đương đại Trần Lương - người từng rất quan tâm đến dự án Con đường Gốm sứ - bày tỏ: "Đây không phải là nghệ thuật mà là một nồi súp thập cẩm. Nội dung tác phẩm không thống nhất, bị xé lẻ một cách lộn xộn. Chỗ thì trống đồng chim lạc xa xưa, chỗ thì mấy ông Tây gắn họa tiết lập thể, chỗ kia lại là những bức vẽ ngây ngô của trẻ con. Con đường Gốm sứ thất bại trước hết vì không có thiết kế tổng thể. Tôi e ngại, nó có thể trở thành một thứ rác văn hóa mà sau này, chúng ta lại phải chi rất nhiều tiền để phá đi".
Nhưng tác phẩm gây chướng mắt người xem bởi cách thức bố trí logo của nhà tài trợ trên bức tranh.

Để đáp lại "hảo ý" của các nhà tài trợ - với sự đóng góp được cho là chiếm ba phần tư tổng kinh phí, hơn 6.000 m2 dự án đã bị xé lẻ thành những đoạn tranh khoảng trên dưới 100 m2, được đóng dấu hai đầu bằng logo của nhà tài trợ. Khi được hỏi suy nghĩ về Con đường Gốm sứ, chị Hoa - một người bán mũ bảo hiểm dạo trên đường Trần Nhật Duật - thật thà nói: "Tôi không biết gì về tranh pháo đâu. Trước tôi bán ở đoạn Thạch Bàn, nhưng chỗ đó gần chân cầu vượt nên người ta ít dừng lại, tôi chuyển sang chỗ Xuncô (tức Sunco) này cho đông khách. Trước thì người ta mua xong hàng rồi đi. Bây giờ cũng có người ngó nghiêng này kia". Dấu ấn doanh nghiệp, một cách vô thức, đã ghi vào trí nhớ của người dân, thay vì chủ đề các chủ đề bức tranh như: Mùa xuân phố cổ (công ty Thạch Bàn tài trợ) hay Đẻ đất đẻ nước (do công ty Sunco tài trợ). Mà không riêng chị Hoa - một người tự nhận là "không biết gì về tranh pháo", những nghệ nhân, công nhân trực tiếp thực hiện dự án, trong những câu chuyện với phóng viên VnExpress.net chiều muộn 7/9 cũng dùng những từ như "đoạn Hanel", "đoạn Garco" để nói về các đoạn tranh của dự án. Đây khó có thể nói là hiệu quả mà những người thực hiện Con đường Gốm sứ muốn để lại trong tâm thức cộng đồng.

Không phủ nhận thực tế này, nhưng họa sĩ Bùi Viết Đoàn - một trong những người theo dự án này từ những ngày đầu - phân bua, mục đích của chủ dự án là làm đẹp Hà Nội, trang trí lại dải đê xám xịt, chứ không phải tạo ra một tác phẩm nghệ thuật cao siêu. Tính thống nhất về nội dung, theo anh là "không phải yếu tố quan trọng nhất", vì "không ai đứng một chỗ mà quan sát hết cả bức tranh 6.000 m cả". Còn về sự bành trướng của logo doanh nghiệp lên tác phẩm, anh thừa nhận: "Con đường Gốm sứ đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn. Chúng tôi phải đi chọn mua từng mảnh gốm, chứ không phải là chỉ đi nhặt những mảnh vỡ vứt đi như người ta nói. Rất khó yêu cầu nhà tài trợ dốc tiền một cách vô tư. Ở nước ngoài, tranh tường của họ đều gắn tên nhà tài trợ. Chỉ có điều, họ gắn ở dưới, chứ không phải ở trên hay ở trung tâm bức tranh như mình, nên đỡ phô hơn".


Vậy giải pháp nào có thể đặt ra cho Con đường Gốm sứ đang dang dở với rất nhiều hạt sạn? Trả lời câu hỏi này, họa sĩ Trần Lương cho rằng, đây là công trình "không thể sửa chữa được về mặt nghệ thuật, mà chỉ khắc phục được phần nào đó về tính lịch sử". "Dự án đã hỏng từ gốc, nên tốt nhất là dỡ đi làm lại, biến nó thành một tác phẩm nghệ thuật cộng đồng đúng nghĩa. Hãy thực hiện có sự thiết kế tổng thể, có nội dung xuyên suốt và từ bỏ ý tưởng chạy theo thành tích, tiến độ. Chúng ta từng có nhiều bài học đáng phải xót xa khi chi ra hàng đống tiền để phá bỏ những tác phẩm điêu khắc phi nghệ thuật của các trại sáng tác. Vậy nên hãy cân nhắc khi thực hiện một dự án không có nhiều giá trị nghệ thuật nhưng lại tồn tại lâu dài trong đời sống tinh thần của cộng đồng", anh nói.
Dự án đang đẩy nhanh tiến độ. Các nghệ nhân làm việc cả buổi tối.

Nhà sử học Lê Văn Lan nhớ lại: "Ban đầu, tôi đã góp ý, là đoạn bến xe Long Biên có thể tái hiện trận đánh Đông Bộ Đầu lịch sử năm 1258 - sự kiện rất quan trọng với vùng này - nhưng bây giờ, thay vào đó là những thứ hoa lá lăng nhăng". Vì vậy, khi được hỏi về giải pháp, ông nhấn mạnh hai yếu tố: "Phải làm rõ chủ đề, ý tưởng nghệ thuật. Phải bớt hẳn, nếu không nói là gạt bỏ mục đích thương mại, làm tiền trên con đường này". Tuy nhiên, ông Lan cũng ghi nhận: "Thực tế, Con đường Gốm sứ là công trình có đóng góp rất lớn cho Hà Nội, trong bối cảnh, người ta chưa làm được gì nhiều cho thành phố nghìn năm tuổi này".

Hình ảnh những chiếc logo của nhà tài trợ bức tranh gây phản cảm cho người đi đường
Hiện, chị đã cho tháo dỡ một số logo để gắn lại một cách thích hợp hơn. "Chúng tôi thực hiện dự án này bằng cả tâm huyết với Hà Nội trong điều kiện gặp rất nhiều khó khăn. Làm nghệ thuật, nhất là nghệ thuật cộng đồng, cũng như làm dâu trăm họ.Trao đổi lại với nhà báo Nguyễn Thu Thủy, chị cho biết, để hạn chế bớt ảnh hưởng của các nhà tài trợ đến tổng thể bức tranh, ban điều hành dự án sẽ tìm cách bố trí logo doanh nghiệp một cách hợp lý hơn về kích cỡ, vị trí hoặc lồng ghép khéo léo và các chi tiết tranh. Nhưng chúng tôi đã lắng nghe mọi góp ý và cố gắng sửa chữa trong khả năng có thể".
 

Về thổi hồn quê vào gốm,từ bỏ chốn phồn hoa đô hội

Quay về lập nghiệp tại quê nhà,Trần Mạnh Thiều đã từ chối đề nghị của một số Cty ở Hà Nội Sau khi tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Công nghiệp tại Hà Nội

Những mẫu sản phẩm gốm do Trần Mạnh Thiều thiết kế

Nhớ lại những năm cuối thập kỷ 90, gốm Phù Lãng chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các sản phẩm nhựa gia dụng.

Thiều kể: “Ngày đó nhà mình nghèo lắm! Thu nhập cả gia đình chỉ trông vào mấy sào ruộng. Ăn nhiều khi còn chưa đủ, nên lên Hà Nội mình cũng vừa học vừa làm”.

Từ tay trắng, bằng lòng yêu nghề, óc sáng tạo, anh đã “vẽ” nên diện mạo mới cho sản phẩm truyền thống của làng quê. Anh là Trần Mạnh Thiều, người có công lớn trong việc đưa sản phẩm gốm Phù Lãng xuất ngoại.

Học trò nghèo nuôi ước mơ

Anh nói: Mình bận quá, vừa lãnh đạo quản lý Cty, vừa tham gia trực tiếp sáng tạo sản phẩm, đó là chưa kể việc thường xuyên đi Hà Nội giao dịch xuất hàng.

Vượt lên khó khăn, Thiều cố gắng học tập. Năm 1997, tốt nghiệp THPT, Thiều thi đỗ hai trường đại học (Sư phạm và Mỹ thuật Công nghiệp). Gia đình đã hướng Thiều học Sư phạm nhưng Thiều lại chọn trường Mỹ thuật Công nghiệp.

“Bố mẹ cố gắng lo cho con năm đầu, từ năm thứ 2 trở đi con sẽ đi làm để lo cho mình”. Nói là làm, khi mới nhập học, Thiều đã sục sạo khắp Hà Nội để kiếm việc làm.

Từ bỏ phồn hoa về thổi hồn quê vào gốm

Ban đầu khi chưa có kinh nghiệm, Thiều đi làm bồi bàn cho các quán giải khát. Sau đó Thiều đã đi làm cho các Cty thiết kế biển hiệu quảng cáo.

Thiều tiết lộ: “Mình quyết tâm theo học ngành mỹ thuật là để nuôi ước mơ khôi phục làng nghề. Mình muốn đưa hội họa và tạo hình vào sản phẩm gốm Phù Lãng”.

Thời gian làm việc tại các Cty ở Hà Nội, Thiều đã sớm chứng tỏ được khả năng của mình. Vì thế nên sau khi tốt nghiệp, Thiều được một số Cty mời về làm việc với mức lương từ 3 - 4 triệu đồng/tháng. Nhưng Thiều đã từ chối.

Gặp được anh Nhung (nghệ nhân Vũ Hữu Nhung, người cùng làng) và nhận được sự khích lệ nên Thiều quyết về quê mở lò gốm.

Lúc đó tay không một đồng vốn, đồ nghề làm gốm không còn, lò thì phá bỏ từ lâu. Bù lại Thiều được gia đình ủng hộ. Những ngày đó, Thiều phải làm tất cả mọi việc: Cặm cụi lên 2 xã Việt Thống và Nhân Hòa cách nhà 10 km lấy đất, nhào nặn, chuốt, đúc khuôn theo mẫu mã tự nghĩ ra rồi phơi, nung...

Đồ nghề thì thuê lại của một số hộ làm gốm. Vài mẻ đầu bị hỏng nhưng Thiều vẫn kiên trì theo nghề. Dần dà, anh làm chủ được kỹ thuật “bí quyết”.

Thiều lại đứng trước bài toán đầu ra cho sản phẩm. Anh về Hà Nội đến chào hàng tại các cửa hàng bán đồ mỹ nghệ, nhà hàng, khách sạn... (những nơi mà hồi còn là sinh viên Thiều đã từng đến trang trí nội thất để kiếm tiền ăn học).

Ngoài ra, Thiều tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ ở nhiều nơi. Hữu xạ tự nhiên hương, những sản phẩm tưởng như rất ngô nghê, lạ lẫm của Thiều đã được đánh giá cao, đặc biệt là khách nước ngoài.

Đưa thương hiệu gốm Trí Việt ra nước ngoài

Từ những chum, vại đựng tương cà mắm muối, Thiều đã biến hóa, để có những chiếc bình, chiếc lọ, những đĩa treo tường, gạch ốp, phù điêu... “Hồn gốm là hồn quê.

Do vậy, tăng thêm bóng dáng quê nhà trên từng sản phẩm gốm sẽ làm gốm sứ bát tràng có giá trị hơn.

Với màu đất quê, kiểu dáng quê và thấp thoáng hình bóng quê nhà trên từng thân gốm, sản phẩm của Phù Lãng giúp người tiêu dùng có những phút giây trở về chốn xưa, thấy lại nếp nhà tranh, thửa ruộng, lũy tre làng…

Trong những khu đô thị lớn, những ngôi nhà hiện đại, nếu trong sân vườn trang trí vài sản phẩm gốm quê mộc mạc sẽ giúp chủ nhân có cảm giác gần với thiên nhiên”.

Năm 2004, anh được Bộ Công nghiệp và Bộ Khoa học Công nghệ tặng danh hiệu Bàn tay vàng, sản phẩm của anh được tặng Huy chương Vàng Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao hợp tiêu chuẩn.

Xưởng gốm của Thiều tạo việc làm thường xuyên cho 50 người với mức lương từ 1 - 1,5 triệu đồng/tháng. Năm 2006, xưởng gốm của Thiều đạt  doanh thu trên 1 tỷ đồng.

Đến nay, xưởng sản xuất được hơn 300 mẫu mã khác nhau chủ yếu do Thiều sáng tạo.

Tháng 11/2006, Cty TNHH sản xuất và thương mại Trí Việt do Thiều làm giám đốc chính thức được thành lập với số lượng nhân công lên đến hàng trăm người.

Sắp tới Thiều sẽ mở rộng, cải tạo để xưởng gốm vừa là nơi sản xuất vừa là điểm đến của những tour du lịch văn hóa, du lịch làng nghề.
Đáng mừng hơn khi những sản phẩm gốm độc đáo của Thiều được những người yêu gốm trong và ngoài nước để ý. Những đơn đặt hàng bắt đầu nhiều lên.

Đến nay, Gốm Thiều đã trở thành một thương hiệu khá uy tín tại thị trường trong nước, nhất là các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng. Mỗi năm Thiều cũng xuất sang Đài Loan, Hàn Quốc hàng chục container gốm và bước đầu đã thâm nhập được vào thị trường châu Âu.

Theo đánh giá của nhiều khách hàng, Gốm Thiều tuy dung dị nhưng cuốn hút bằng sự mộc mạc, giản dị, có chiều sâu tâm hồn. Màu sắc không quá phong phú nhưng gợi cảm giác ấm cúng của đất nung và của men da lươn độc đáo.

Những bình, lọ, chụp đèn, những bộ ấm chén... tuy mang dáng vẻ hiện đại, song đem lại cho người xem sự liên tưởng đến những chum, chóe, hũ, vại...vốn đã gắn bó với đời sống người Việt từ lâu.

Mẫu sản phẩm tranh gốm  do Thiều tự thiết kế
Mỗi món đều mang dấu ấn cá nhân nên có sức hấp dẫn riêng,xét từng sản phẩm, gốm của mình có thể chất lượng không đều nhau.Thiều khẳng định
 

Làng nghề truyền thống Bình Dương gốm sứ

Một bên là hàng trăm cơ sổ gốm sứ truyền thống với các lò nung bằng củi, than đá, sản xuất theo phương pháp thủ công. Một bên, đại diện là gốm sứ Minh Long, với những ứng dụng máy móc, dây chuyền sản xuất hiện đại.

Thợ thủ công làm gốm sứ trong nhà

Cuối tuần qua, đi cùng với Sở Thông tin truyền thông khảo sát một số địa điểm để làm đề án cho “Festival gốm sứ Việt Nam - Bình Dương 2010”, PV Dân trí đã kịp ghi lại một số hình ảnh đẹp về nghề làm gốm sứ độc đáo tại địa phương này.

Ở đây có hơn chục chiếc thuyền của các gia đình, cái nọ đậu gối đầu cái kia như chính cuộc sống của những người dân sống nương tự vào nhau vậy. Cái tên “bến gốm” cũng ra đời từ đó. Sau lễ Ông Công Ông Táo, hoạt động buôn bán rôm rả hẳn, hàng hóa ở đây là các loại đồ gốm sứ, chúng được vận chuyển về bằng thuyền từ những làng nghề nổi tiếng như Bát Tràng, Phù Lãng… Năm nay nước sông cạn, thuyền đành nằm một chỗ, những ngày giáp Tết hàng bán chạy hơn nên khi cần lấy thêm hàng họ phải chở bằng ô tô.

Việc bảo tồn một ngành nghề truyền thống và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tân thời để đưa gốm sứ Bình Dương vươn ra thị trường quốc tế cũng là một bài toán nan giải.

Nhằm tôn vinh giới thiệu một trong những nghề truyền thống có từ lâu đời và nổi tiếng đặc sắc của tỉnh Bình Dương; đồng thời khẳng định vị trí, tiềm năng của nghề gốm sứ trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương hiện tại và tương lai, UBND tỉnh đang lên kế hoạch tổ chức Festival Gốm sứ 2010 vào tháng 9/2010.


Đây cũng là cơ sở, điều kiện hình thành Trung tâm bảo tồn gốm sứ Việt Nam sau này.

Bàn tay thợ đang nặn cho đất thành hình
Nhiều trung tâm gốm trở lại hoạt động sôi nổi và rất năng động như Bát Tràng, Đông Triều, Phù Lãng, Biên Hoà… May mắn thay, các lớp nghệ nhân cũ vẫn còn và các lớp nghệ nhân mới đang xuất hiện. Sản phẩm gốm của Việt Nam từ lâu đã là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao và hôm nay nó còn là một mặt hàng lưu niệm không thể thiếu đối với nhiều du khách gần xa. Trong những năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, người Việt Nam không có điều kiện để phát triển nghề thủ công nói chung và nghề gốm nói riêng. Nghề gốm bị sa sút và có lúc tưởng chừng bị mất nghề. Sau ngày đất nước thống nhất, hầu hết các nghề thủ công được hồi sinh, trong đó nghề gốm là một nghề đã được khôi phục và phát triển rất nhanh.
 

Bến gốm vào vụ gần tết

Khoảng hơn chục năm nay, một số nông dân Lập Thạch, Vĩnh Phúc đã bỏ đồng ruộng sắm thuyền lên Hà Nội quyết chí làm ăn. Địa điểm dừng chân và buôn bán của họ là bãi ven sông Hồng đoạn phường Tứ Liên quận Tây Hồ…

Bãi đất nơi neo tàu chính là nơi để hàng đồng thời cũng là “chợ”

Có hơn chục chiếc thuyền của các gia đình, cái nọ đậu gối đầu cái kia như chính cuộc sống của những người dân sống nương tự vào nhau vậy. Cái tên “bến gốm” cũng ra đời từ đó. Sau lễ Ông Công Ông Táo, hoạt động buôn bán rôm rả hẳn, hàng hóa ở đây là các loại đồ gốm sứ, chúng được vận chuyển về bằng thuyền từ những làng nghề nổi tiếng như Bát Tràng, Phù Lãng… Năm nay nước sông cạn, thuyền đành nằm một chỗ, những ngày giáp Tết hàng bán chạy hơn nên khi cần lấy thêm hàng họ phải chở bằng ô tô.

Việc bảo tồn một ngành nghề truyền thống gom su bat trang và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tân thời để đưa gốm sứ Bình Dương vươn ra thị trường quốc tế cũng là một bài toán nan giải.

Nhằm tôn vinh giới thiệu một trong những nghề truyền thống gốm sứ có từ lâu đời và nổi tiếng đặc sắc của tỉnh Bình Dương; đồng thời khẳng định vị trí, tiềm năng của nghề gốm sứ trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương hiện tại và tương lai, UBND tỉnh đang lên kế hoạch tổ chức Festival Gốm sứ 2010 vào tháng 9/2010.


Đây cũng là cơ sở, điều kiện hình thành Trung tâm bảo tồn gốm sứ Việt Nam sau này.

Cuối tuần qua, đi cùng với Sở Thông tin truyền thông khảo sát một số địa điểm để làm đề án cho “Festival gốm sứ Việt Nam - Bình Dương 2010”, PV Dân trí đã kịp ghi lại một số hình ảnh đẹp về nghề làm gốm sứ độc đáo tại địa phương này.


Theo những người bán hàng thì năm nay bán được ít hơn mọi năm vì đào quất bán không chạy.
Các lớp nghệ nhân cũ vẫn còn và các lớp nghệ nhân mới đang xuất hiện. Sản phẩm gốm của Việt Nam từ lâu đã là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao và hôm nay nó còn là một mặt hàng lưu niệm không thể thiếu đối với nhiều du khách gần xa. Trong những năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, người Việt Nam không có điều kiện để phát triển nghề thủ công nói chung và nghề gốm nói riêng. Nghề gốm bị sa sút và có lúc tưởng chừng bị mất nghề. Sau ngày đất nước thống nhất, hầu hết các nghề thủ công được hồi sinh, trong đó nghề gốm là một nghề đã được khôi phục và phát triển rất nhanh. Nhiều trung tâm gốm trở lại hoạt động sôi nổi và rất năng động như Bát Tràng, Đông Triều, Phù Lãng, Biên Hoà…
 

Đã có hàng trăm năm lịch sử với nghề

Theo các nhà khảo cổ, thì ngay thời Lý, thời Trần, sứ Bát Tràng đã được xuất đi nhiều nơi như: Nhật Bản,Thái Lan, Bồ Đào Nha.Đã từ lâu đồ gốm sứ Bát Tràng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị.

Bộ cốc chén bát tràng

Chỉ cần nói riêng công đoạn xử lý đất sét để làm gốm sứ ở Bát Tràng đã thấy lắm công phu. Đất sét chở về, được đổ ngâm vào hệ thống bể chứa bể lọc. Đất sét được ngâm trong nước một vài tháng cho phân rã, tới độ chín, đánh tơi, nhuyễn trong bể chứa, đoạn tháo xuống bể lọc cho lắng, lọc tạp chất hữu cơ nổi trên hớt bỏ. Phần đất sét nhuyễn, sạch lắng dưới được chuyển sang bể phơi, bể ủ. Tới đây, đất sét trắng, mịn, sánh như bột gạo, mới đem lên sản xuất gốm sứ được.

Dụng cụ sản xuất chính của lò gốm cổ là cái bàn xoay. Bàn xoay được chôn xuống đất, người thợ ngồi chân đạp bàn xoay, tay buông bắt từng thỏi đất, chuốt lên thành bình, thành lọ, bát, đĩa. Tay người thợ như có ngữ, họ làm thủ công, vậy mà các sản phẩm có độ giống nhau khá cao, như có khuôn dập. Mãi sau này, kỹ nghệ làm đất sét thật nhuyễn, rồi rót vào khuôn thạch cao để tạo nên các sản phẩm gốm mộc, đã là cuộc các mạng kỹ thuật với làng gốm. Hiện tại, số hàng gốm chuốt tay ở Bát Tràng còn duy trì, song ít. Đa số hàng rót khuôn, vì thế tạo năng suất rất cao cho thôn

Đầu tiên, làng có tên Bạch Thổ Phường, rồi đổi tên là Bát Tràng Phường, mãi sau này mới gọi là Bát Tràng. Nghề gốm ở đây hưng thịnh suốt từ thời Lý, thời Trần. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi có ghi: “Làng Bát Tràng làm đồ gốm. Làng Huê Cầu nhuộm vải thâm....”. Cũng theo sách Dư địa chí còn ghi “Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm - Huê Cầu thuộc huyện Văn Giang, hai làng ấy cung ứng đồ bang giao với Trung Quốc là bảy mươi bộ bát sứ, hai trăm tấm vải thâm...”.

Đã từ lâu đồ gốm sứ Bát Tràng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Theo các nhà khảo cổ, thì ngay thời Lý, thời Trần, sứ Bát Tràng đã được xuất đi nhiều nơi như: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Pháp... Qua khai quật ở cửa cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), phố Hiến (Hưng Yên)..., ta còn gặp rất nhiều hiện vật gốm sứ Bát Tràng.

 

Các mặt hàng gốm men ngọc, men hoa lan, men rạn của Bát Tràng rất đặc biệt. Như bát, đĩa, đôn, chậu, thống, chân đèn... của Bát Tràng từ xưa đã có một phong cách đặc biệt, không lẫn với gốm sứ Thổ Hà, Phủ Lãng, Hương Canh...

Từ thời xa xưa cho đến ngày nay, Bát Tràng vẫn luôn có hàng trăm lò gốm nhả khói. Cuộc sống lao động sản xuất thương mại ở đây, từ bao đời, vẫn luôn sôi động. Bến sông thuyền bè tấp nập chở than, củi, đất sét là nguyên liệu sản xuất đến Bát Tràng. Cùng hàng loạt thuyền bè chở sản phẩm gốm từ Bát Tràng đi các tỉnh gần, tỉnh xa. Vào làng, trong bất kỳ ngõ xóm nào, đều thấy tất bật người làm đất, người chuốt hình, người tráng men, người chuyển sản phẩm vào lò, người ra lò. Sản phẩm gốm bề bộn, bày biện trong nhà này, nhà kia, ngõ này, ngõ nọ. Bát Tràng là một công trường thủ công sôi động bậc nhất của đất Thăng Long xưa và nay.

Là làng nằm ven sông, nguồn đất làm gốm ở đây phải đi khai thác từ Sơn Tây, Phúc Yên, Đông Triều về. Nguồn đất sét ở Hồ Lao, Trúc Thôn rất tốt, sét trắng, mịn, chịu nhiệt cao.

 

Làng nghề gốm bát tràng đẹp nổi trội
Qua từng gia đoạn sản xuất, người thợ Bát Tràng lại cải tiến tạo nên nhiều kiểu lò nung gốm thích hợp. Từ kiểu lò cổ truyền xưa là lò ếch, tới lò dàn, lò bầu, lò hộp... mỗi loại lò nung lại thích hợp với từng loại sản phẩm khác nhau.
 

Gốm bát tràng làng nghề truyền thống

Đồ gốm sứ Bát Tràng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Theo các nhà khảo cổ, thì ngay thời Lý, thời Trần, sứ Bát Tràng đã được xuất đi nhiều nơi như: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Bồ Đào Nha

Hình ảnh bộ ấm chén

Là làng nằm ven sông, nguồn đất làm gốm ở đây phải đi khai thác từ Sơn Tây, Phúc Yên, Đông Triều về. Nguồn đất sét ở Hồ Lao, Trúc Thôn rất tốt, sét trắng, mịn, chịu nhiệt cao.

Đầu tiên, làng có tên Bạch Thổ Phường, rồi đổi tên là Bát Tràng Phường, mãi sau này mới gọi là Bát Tràng. Nghề gốm ở đây hưng thịnh suốt từ thời Lý, thời Trần. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi có ghi: “Làng Bát Tràng làm đồ gốm. Làng Huê Cầu nhuộm vải thâm....”. Cũng theo sách Dư địa chí còn ghi “Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm - Huê Cầu thuộc huyện Văn Giang, hai làng ấy cung ứng đồ bang giao với Trung Quốc là bảy mươi bộ bát sứ, hai trăm tấm vải thâm...”.

Đã từ lâu đồ gốm sứ Bát Tràng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Theo các nhà khảo cổ, thì ngay thời Lý, thời Trần, sứ Bát Tràng đã được xuất đi nhiều nơi như: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Pháp... Qua khai quật ở cửa cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), phố Hiến (Hưng Yên)..., ta còn gặp rất nhiều hiện vật gốm sứ Bát Tràng.

 

Các mặt hàng gốm men ngọc, men hoa lan, men rạn của Bát Tràng rất đặc biệt. Như bát, đĩa, đôn, chậu, thống, chân đèn... của Bát Tràng từ xưa đã có một phong cách đặc biệt, không lẫn với gốm sứ Thổ Hà, Phủ Lãng, Hương Canh...

Từ thời xa xưa cho đến ngày nay, Bát Tràng vẫn luôn có hàng trăm lò gốm nhả khói. Cuộc sống lao động sản xuất thương mại ở đây, từ bao đời, vẫn luôn sôi động. Bến sông thuyền bè tấp nập chở than, củi, đất sét là nguyên liệu sản xuất đến Bát Tràng. Cùng hàng loạt thuyền bè chở sản phẩm gốm từ Bát Tràng đi các tỉnh gần, tỉnh xa. Vào làng, trong bất kỳ ngõ xóm nào, đều thấy tất bật người làm đất, người chuốt hình, người tráng men, người chuyển sản phẩm vào lò, người ra lò. Sản phẩm gốm bề bộn, bày biện trong nhà này, nhà kia, ngõ này, ngõ nọ. Bát Tràng là một công trường thủ công sôi động bậc nhất của đất Thăng Long xưa và nay.


 

Nhiều mấu mã đa dạng với gốm sứ bát tràng
Những viên gạch tốt, xây trần, chịu mưa nắng bao năm trời, không rêu, không xói mòn, đủ biết kỹ thuật của người thợ gốm ra sao.Ca dao cổ có nói về gạch Bát Tràng, đó là những viên gạch lớn được xếp làm bao thơi trong lò. Vì được làm từ chất đất sét tốt, được nung trong lò chín đều, nên những viên gạch Bát Tràng ngày xưa rất nuột, chín già. Gạch Bát Tràng xưa thường được dành để xây đình, xây chùa, bó quây bờ giếng, bờ ao làng.
 

Nhiều cơ sở gốm sứ Bát Tràng chuyển dùng than do Gas đắt

Sắp tới sẽ chuyển sang nung các sản phẩm gốm, sứ mỹ nghệ bằng loại lò than thay vì lò gas như hiện nay. Nguyên nhân là do giá gas công nghiệp Total giao đến cơ sở đã lên mức 8.000 đồng/kg.Ông Nguyễn Văn Toản, Chủ Cơ sở sản xuất mỹ nghệ Vinh Toản (Bát Tràng, Gia Lâm) cho biết

Gía gas tăng thì dùng than mới đem lại lợi nhuận

Cũng theo ông Toản, với lò nung gốm sứ bằng gas khá phổ biến hiện là loại 7 m3, mỗi lần nung hết khoảng 350 kg, tương đương khoảng 2,8 triệu đồng. Còn nếu nung bằng than, chi phí chỉ hết khoảng 250.000 đồng. Tuy nhiên, chất lượng nung bằng than thấp hơn, và lại gây ô nhiễm môi trường.

"Chi phí đầu tư cho một lò gas 7 m3 hiện lên đến 200 triệu đồng. Với tình hình giá gas bất ổn như hiện nay, các cơ sở sản xuất gốm sứ nhỏ lẻ tại Bát Tràng dự tính chuyển sang nung bằng gas đã phải dừng ý định", ông Nguyễn Đức Trung, chủ một cơ sở cho biết.

Ông Dương Xuân Chanh, Phó Chủ tịch Hội gốm sứ Bát Tràng cho biết, những loại lò 4 m3 và 6-18 m3, giá thành của gas chiếm lần lượt khoảng 70% và 55% giá trị sản phẩm. "Vì vậy, gas tăng giá dù chỉ vài trăm đồng/kg cũng ảnh hưởng rất lớn đến những cơ sở sản xuất vốn vẫn còn khó khăn về nguồn khách mua hàng", ông nói.

Ông Toản cho biết, mức giá này đã tăng hơn so với 2 tháng trước là 500 đồng/kg. "Giá gas tăng, nhưng giá thành sản phẩm lại không thể bán được cao. Vì vậy, sau một thời gian lợi nhuận liên tục giảm, chúng tôi quyết định sẽ chuyển sang dùng lò than để có hiệu quả kinh tế hơn", ông nói.

 

Cuối cùng lại là Than
Hiện xã có 220/800 lò nung gốm dùng gas.Bát Tràng có khoảng 1.600 hộ dân, trong đó gần 1.000 hộ chuyên làm đồ gốm sứ, mỹ nghệ
 

Gas đắt, nhiều cơ sở gốm sứ Bát Tràng chuyển dùng than

Ông Nguyễn Văn Toản, Chủ Cơ sở sản xuất mỹ nghệ Vinh Toản (Bát Tràng, Gia Lâm) cho biết, sắp tới sẽ chuyển sang nung các sản phẩm gốm, sứ mỹ nghệ bằng loại lò than thay vì lò gas như hiện nay. Nguyên nhân là do giá gas công nghiệp Total giao đến cơ sở đã lên mức 8.000 đồng/kg.

Dùng than mới có lợi nhuận khi giá Gía Gas tăng

Ông Toản cho biết, mức giá này đã tăng hơn so với 2 tháng trước là 500 đồng/kg. "Giá gas tăng, nhưng giá thành sản phẩm lại không thể bán được cao. Vì vậy, sau một thời gian lợi nhuận liên tục giảm, chúng tôi quyết định sẽ chuyển sang dùng lò than để có hiệu quả kinh tế hơn", ông nói.

Cũng theo ông Toản, với lò nung gốm sứ bằng gas khá phổ biến hiện là loại 7 m3, mỗi lần nung hết khoảng 350 kg, tương đương khoảng 2,8 triệu đồng. Còn nếu nung bằng than, chi phí chỉ hết khoảng 250.000 đồng. Tuy nhiên, chất lượng nung bằng than thấp hơn, và lại gây ô nhiễm môi trường.

"Chi phí đầu tư cho một lò gas 7 m3 hiện lên đến 200 triệu đồng. Với tình hình giá gas bất ổn như hiện nay, các cơ sở sản xuất gốm sứ nhỏ lẻ tại Bát Tràng dự tính chuyển sang nung bằng gas đã phải dừng ý định", ông Nguyễn Đức Trung, chủ một cơ sở cho biết.

Ông Dương Xuân Chanh, Phó Chủ tịch Hội gốm sứ Bát Tràng cho biết, những loại lò 4 m3 và 6-18 m3, giá thành của gas chiếm lần lượt khoảng 70% và 55% giá trị sản phẩm. "Vì vậy, gas tăng giá dù chỉ vài trăm đồng/kg cũng ảnh hưởng rất lớn đến những cơ sở sản xuất vốn vẫn còn khó khăn về nguồn khách mua hàng", ông nói.

Giá Gas bất ổn, người dân quay về với Than
Bát Tràng có khoảng 1.600 hộ dân, trong đó gần 1.000 hộ chuyên làm đồ gốm sứ, mỹ nghệ. Hiện xã có 220/800 lò nung gốm dùng gas.
 

Lò nung gas giảm ô nhiễm tại Bát Tràng

Với ưu điểm giảm tiêu hao nhiên liệu, chi phí sản xuất và tiết kiệm thời gian nung, lò gas đang là lựa chọn của các doanh nghiệp gốm. Tuy nhiên, làng nghề Bát Tràng hiện vẫn còn khoảng 150 lò nung than gây ô nhiễm môi trường cần thay thế.

Một lò nung gas 3,5 m3 hiện nay có giá lắp đặt là hơn 120 triệu đồng

Năm 2006, Ban quản lý dự án nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Bộ Khoa học và Công nghệ) phối hợp cùng UBND xã Bát Tràng và Hiệp hội gom su bat trang triển khai dự án "Thúc đẩy ứng dụng lò gas nung gốm tiết kiệm năng lượng" tại làng nghề này.

Nhờ ưu điểm giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm thời gian nung, tỷ lệ thu hồi sản phẩm cao... nên năm 2007-2008, xã Bát Tràng đã có 40 dự án đầu tư theo công nghệ mới này, trong đó 21 dự án được vay và bảo lãnh vốn vay. Tổng vốn vay đạt gần 10 tỷ đồng và giá trị bảo lãnh vốn vay gần 7 tỷ đồng, lấy từ nguồn của Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam.

Là một trong những người đầu tiên của làng dám bỏ ra cả trăm triệu đồng để lắp đặt lò nung bằng gas vào năm 2000, anh Trần Vũ Chiến, chủ xưởng sản xuất gốm sứ ở Bát Tràng hiểu rất rõ lợi ích của công nghệ mới này.

Theo đó, lò ga đốt 13 tiếng và chờ nguội 13 tiếng là có thể dỡ sản phẩm, trong khi lò hộp đốt than phải mất tới 3-5 ngày, tùy theo từng loại sản phẩm. Do điều chỉnh được nhiệt độ trong lò nên không chỉ màu gốm đẹp hơn mà tỷ lệ thu hồi khi nung gốm bằng gas cũng lên tới trên 90%, trong khi nung bằng than chỉ đạt dưới 70%.

"Lò gas là bước tiến của ngành gốm sứ, giúp đổi mới lò nung của Bát Tràng. Các cụ có câu 'Ở trần gian, làm âm phủ' bởi khi đốt lò than thì không chỉnh được nhiệt độ nên người nung chẳng biết sản phẩm làm ra sẽ thế nào. Hơn nữa, trước đây, không chỉ mặt mũi luôn nhem nhuốc, hốc hác mà tôi chắc chắn cũng chẳng có thời gian ngồi nói chuyện bởi mỗi mẻ gốm phải mất 2-3 ngày xếp lò", anh Chiến nói.

Tuy nhiên, ông chủ trẻ này cũng cho rằng, các nhà khoa học nên sớm đưa công nghệ tự động hóa vào lĩnh vực gốm sứ để giúp người dân nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như lợi ích kinh tế và xã hội. "Tôi muốn phối hợp với các nhà khoa học để nâng cao hơn nữa chất lượng lò nung để nói đến Bát Tràng, người ta không nghĩ đến một làng nghề ô nhiễm", anh Chiến mong mỏi.

Do chứa khí lưu huỳnh và oxit carbon nên khói từ các lò nung than rất độc và ảnh hưởng mạnh tới sức khỏe người dân làng nghề. Ảnh: Tiến Dũng.

Theo Công ty cổ phần thiết kế và sản xuất gốm sứ Bát Tràng, nhờ ưu điểm giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm chi phí sản xuất 30% và tiết kiệm thời gian nung, mỗi năm 41 dự án lò nung gas đã giúp tiết kiệm được khoảng 4.000 - 5.000 tấn dầu và giảm phát thải khoảng 20.000 tấn khí CO2.

Thống kê của UBND xã Bát Tràng cho thấy, hiện vẫn còn khoảng 150 lò than gây ô nhiễm môi trường đang hoạt động. Năm 2008, đã có 20 lò được chuyển sang đốt bằng gas, và địa phương này chủ trương năm 2009-2010 mỗi năm chuyển 50 lò từ đốt than sang chạy bằng gas để hoàn thành mục tiêu xóa bỏ lò than.

Do chứa khí lưu huỳnh và oxit carbon nên khói từ các lò nung than rất độc và ảnh hưởng mạnh tới sức khỏe người dân làng nghề
Lợi ích của công nghệ này là rất lớn
 
Trang: [1] 2 >